Bệnh nhân nhi V.D.T – 6 tuổi vào viện lúc 13h30 phút ngày 29/03/2020

Người nhà kể: 9h sáng ngày 29/03/2020  trẻ đi làm răng tại phòng khám gia đình, trong lúc làm trẻ giẫy giụa nên đinh kim ( ~ 1.5cm) sặc vào họng, gia đình đã đưa trẻ đến y tế cơ sở khám được chỉ định chụp X-quang, chẩn đoán : Dị vật thực quản, chưa xử trí gì , trẻ được chuyển ngay đến khoa nhi tại Bệnh viện Đa Khoa Quốc Tế Hải Phòng.

Khi vào viện : trẻ tỉnh , không sốt, chỉ thấy vướng ,không ho, không khó thở, không đau tức, môi chi hồng ( Mạch 104 Ck/p, huyết áp 95/55 mmHg, SpO2 99%). Trẻ được bác sĩ thăm khám và chỉ định chụp X-quang để xác định vị trí dị vật. Kết quả X-quang cho thấy hình ảnh dị vật kim loại ngang mức D5-D6 trên đường đi của thực quản. BN nhanh chóng được chỉ định và thực hiện nội soi thực quản dạ dày tại Trung tâm nội soi Bệnh viện Đa Khoa Quốc Tế Hải Phòng để gắp dị vật nhưng không thấy, lập tức ê kíp nội soi ( chịu trách nhiệm chính là PGS.TS Nguyễn Thanh Hồi – Giám đốc Điều Hành Bệnh viện Đa Khoa Quốc Tế Hải Phòng ) trực tiếp tiến hành chuyển nội soi phế quản ống mềm ( lấy dị vật, có gây mê) cho thấy hình ảnh dị vật khí quản là trâm cài nha khoa , cán nhựa màu nâu đỏ, mũi cắm chặt vào niêm mạc khí quản. Tiến hành kẹp trâm sát cán, đẩy xuống dưới đến khi mũi trâm rút khỏi niêm mạc khí quản. Sau đó kẹp mũi trâm và rút xuôi chiều ra ngoài. Dị vật được lấy ra là trâm cài nha khoa dài > 2cm. Ca gắp nội soi đã diễn ra thành công trong niềm vui sướng vỡ òa của gia đình bệnh Nhi.

Bệnh nhi sau khi được tiến hành nội soi phế quản gắp dị vật được đưa đến phòng hậu phẫu của khu nội soi có kĩ thuật viên gây mê theo dõi và chăm sóc, sau 2 giờ trẻ tỉnh táo, không đau, không khó thở, ăn uống được( Mạch 110Ck/p, Huyết áp 100/55 mmHg, SpO2 99%). Sau khi ổn định, bác sĩ khoa Nhi đã hướng dẫn bệnh nhi uống thuốc theo đơn và tiếp tục theo dõi tại nhà.

Một số lời khuyên của Bs. Bệnh Viện Đa Khoa Quốc Tế Hải Phòng để phòng tránh dị vật đường thở ở trẻ nhỏ :

– Do đặc điểm sinh lí của trẻ. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có cấu tạo của dạ dày hình tròn, nằm ngang, nằm cao, cơ thắt tâm vị yếu nên lỗ tâm vị mở rộng, cơ thắt môn vị phát triển hơn nên lỗ môn vị đóng chặt, thức ăn thường là lỏng, dạ dày có nhiều hơi nên dễ bị nôn trớ, đặc biệt là sau khi ăn no. Khi bị nôn trớ, trẻ thường hoảng sợ, gào khóc làm đường dẫn khí mở, dẫn tới thức ăn lọt vào đường hô hấp gây sặc. Tai nạn trong trường hợp này thường xảy ra trong giờ ăn hoặc sau giờ ăn – lúc trẻ ngủ trưa . Phản xạ đóng mở nắp thanh môn chưa hoàn thiện, vì vậy trẻ dễ bị sặc nếu chúng ta cho trẻ ăn hoặc uống khi trẻ đang khóc, đang ho, đang ngủ gật, hoặc không tập trung khi ăn như: vừa ăn vừa xem ti vi, vừa xem điện thoại…, thậm chí đánh mắng khi trẻ đang ăn, ép cho trẻ ăn khi trẻ không muốn ăn, bịt mũi, bóp miệng bắt trẻ nuốt. Tai nạn trong trường hợp này thường xảy ra trong giờ ăn. Do lứa tuổi còn hạn chế trong nhận thức và hiểu biết, đặc biệt trẻ nhỏ có phản xạ môi miệng phát triển nên vật gì cũng cho vào miệng, nguy cơ dị vật đường thở là rất lớn nếu phụ huynh không bao quát, trông trẻ không cẩn thận. – Do bất cẩn của phụ huynh trong chăm sóc, giáo dục trẻ. Trong quá trình chơi, nếu phụ huynh không bao quát kĩ, trẻ có thể nhặt đồ chơi nhét vào mũi, vào tai, thậm chí ngậm đồ chơi vào miệng dẫn tới sặc (nhất là các loại đồ chơi nhỏ tròn như: hạt cườm, hòn bi,…). Cho trẻ ăn quả không bỏ hết hạt như: quả vải, quả nhãn, quả na, hồng xiêm,…; hoặc trẻ ăn các loại hạt như: hạt bí, hạt hướng dương, hạt lạc, hạt đậu phộng,… Để trẻ vừa nằm vừa ăn, khiến phản xạ nuốt khó khăn hơn và làm đường dẫn khí thẳng nên dễ bị sặc, cho trẻ, ngồi, nằm ngủ dưới đất, các con côn trùng dễ bò vào mũi, tai,…

Những biểu hiện thường thấy khi trẻ bị dị vật đường thở:

-Dị vật là chất lỏng hoặc nửa lỏng, nửa đặc như: sữa, bột, cháo hay nước,… (còn gọi là sặc), hoặc dị vật là chất rắn mắc ở họng, thanh quản (còn gọi là hóc).

+Biểu hiện: Khi dị vật vào thanh quản gây ra triệu chứng điển hình gọi là hội chứng xâm nhập. Đó chính là cơn ho dữ dội cùng với khó thở (thở có tiếng rít, nhịp thở chậm và khó thở vào), tím tái, vã mồ hôi, toàn thân vật vã, có khi tè dầm,… Trẻ có thể tử vong do tắc đường thở vì không cấp cứu kịp; hoặc dị vật được tống ra ngoài và sau 10-15 phút, trẻ dần trở lại bình thường. Dị vật ở lại thanh quản như: xương cá, vảy cá, râu tôm,…, biểu hiện sau hội chứng xâm nhập vẫn còn khó thở thanh quản, khàn tiếng hoặc mất tiếng.

+ Cách xử lí: Nếu trẻ đang ăn thì dừng ngay việc cho ăn. Với trẻ nhỏ dưới 6 tháng: phụ huynh ngồi trên ghế, đùi dốc về phía đầu gối, một tay để dọc lên đùi (nếu trẻ nhẹ, chúng ta có thể đứng đặt trẻ dọc trên tay). Để trẻ nằm sấp dọc trên cánh tay chúng ta, đầu thấp, vai và cằm của trẻ được đỡ bởi một bàn tay của chúng ta, dùng gót bàn tay còn lại vỗ đủ mạnh vào lưng (giữa 2 xương bả vai) của trẻ để tống dị vật ra ngoài .Vẫn để trẻ tư thế như vậy, chúng ta luồn tay lau hết dị vật mũi miệng cho trẻ. Nếu trẻ ngừng thở thì hô hấp nhân tạo miệng – miệng; nếu trẻ ngừng tim thì ép tim ngoài lồng ngực rồi chuyển đến bệnh viện. Với trẻ trên 6 tháng: chúng ta ngồi trên ghế, đùi dốc về phía đầu gối, đặt trẻ nằm sấp trên đùi mình, đầu thấp xuôi về phía đầu gối, 2 chân trẻ quặp về 2 bên đùi như (cưỡi lên đùi): một tay giữ trẻ, gót bàn tay kia vỗ đủ mạnh vào lưng (vùng giữa 2 bả vai) của trẻ để tống dị vật ra ngoài. Vẫn để trẻ tư thế như vậy, chúng ta luồn tay lau hết dị vật mũi miệng cho trẻ. Nếu trẻ ngừng thở thì hô hấp nhân tạo miệng – miệng, nếu trẻ ngừng tim thì ép tim ngoài lồng ngực rồi chuyển đến bệnh viện.

– Dị vật ở mũi, tai

+Biểu hiện: Trong quá trình chơi, trẻ có thể nhét các loại hạt, cúc áo,…, các loại dị vật này thường phát hiện muộn vì trẻ sợ không dám nói, triệu chứng tắc một bên mũi. Dị vật ở tai để lâu gây viêm tai giữa, thối, chảy mủ.

+ Cách xử lí: Đưa trẻ đến viện.

– Dị vật xuống phế quản, phổi

+Biểu hiện: Khi dị vật qua thanh quản có hội chứng xâm nhập, sau đó là triệu chứng tạm thời yên lặng, sau 3- 4 ngày có triệu chứng của nhiễm khuẩn.

+ Cách xử lí: Đưa trẻ đi viện. Trong quá trình xử lí khi phát hiện trẻ bị dị vật đường thở, cần lưu ý: – Tuyệt đối không được dùng tay móc dị vật, hành động này có thể làm cho trẻ bị nôn và trào vào đường hô hấp, đôi khi còn làm trầy xước, phù nề, xung huyết vùng họng, khiến trẻ trở nên nguy hiểm; – Đây là cấp cứu đòi hỏi sự nhanh chóng, khẩn trương, động tác cấp cứu phải chính xác, nhịp nhàng; – Thái độ phải bình tĩnh, dứt khoát, ngay sau khi tai nạn xảy ra cần khẩn trương sơ cứu ban đầu, đồng thời gọi ngay xe cấp cứu đến hỗ trợ, tuyệt đối không được dấu do sợ hãi làm ảnh hưởng đến tính mạng của trẻ.

Dị vật đường thở là tai nạn nguy hiểm, đe dọa tính mạng trẻ, chúng ta cần chủ động phòng tránh cho trẻ như: loại bỏ những yếu tố nguy cơ gây dị vật đường thở, thông qua các hoạt động để giáo dục cho trẻ những thói quen tốt, cách phòng tránh bị dị vật đường thở,… phụ huynh cần được trang bị kiến thức, kĩ năng xử lí đúng khi trẻ bị dị vật đường thở

 

Leave a reply